Thứ Tư, 20 tháng 10, 2010

Bà của chúng tôi / chuyện về một phần đời tôi/

Bà giúp việc gia đình chúng tôi là khởi nguồn cho mọi cảm hứng thơ mà lũ trẻ chúng tôi có được cho tới tận bây giờ. Một nửa thế kỉ qua đi, bây giờ chúng tôi mới có chút thời gian dành để nhớ tới bà,nhớ tới công lao bà nhọc nhằn với chúng tôi những năm tháng cũ.
Mẹ tôi vất vả, buôn thúng bán bưng thời Pháp thuộc, nào tản cư, rồi CM tháng Tám, rồi hòa bình lập lại. Vất vả thế mà mẹ sinh chúng tôi sòn sòn “ba năm đôi” như lối nói của các cụ.Mẹ tôi gặp bà ở một chợ người trên phố Hàng Đậu. Thời đó, những người ở quê lên Hà nội , muốn tìm việc làm chỉ tới đó ngồi xung quanh chợ Đồng xuân, Bắc qua, và ai muốn thuê mướn người thì tới đó tìm. Bố mẹ chúng tôi lúc đó đã thuộc loại khá giả , có cửa hàng buôn tơ lụa trên phố C.N nên rất cần người giúp việc. Bà đến với chúng tôi khi mẹ sinh tôi, bà đón tôi từ nhà thương phụ sản 14 Nguyễn Thái Học về., năm Hà nội giải phóng. Chúng tôi có bà từ đó.
Tôi chẳng còn nhớ gì nhiều về bà, những chi tiết về bà chủ yếu do cha mẹ tôi kể lại.Nhưng tôi biết , bà đẹp lắm. Dáng người thon nhỏ, da trắng, tóc dài. Bà quê Kinh Bắc, chạy tản cư, rồi bỏ nhà trốn lên Hà nội để tránh cuộc cải cách ruộng đất ở quê, bởi bà là vợ lẽ một ông chánh tổng.Thời đó, con gái biết đọc biết viết hiếm lắm, chưa kể lại xinh đẹp, lại biết làm thơ như bà. May mắn cho tôi, từ khi chào đời cho tới khi Miền Bắc bị bom Mỹ cày xới, được bà chăm nom, dạy dỗ, truyền lại cho tất cả những kiến thức , tâm hồn thơ văn, tình yêu với những gì rất Việt nam của bà.
Nhờ có bà mà mẹ tôi rảnh tay buôn bán làm ăn, và lại tiếp tục sòn sòn “ ba năm đôi” như trước. Bà đón lần lượt thêm 5 đứa em tôi nữa lúc chào đời. Bà đi chợ, giặt quần áo, nấu cơm, quét dọn nhà cửa….với một sự cần mẫn, chịu đựng dẻo dai vô biên, một gia đình đông đúc với vài ba lần dọn nhà nơi này nơi khác vì những biến chuyển của xã hội.Tôi , đến tận bây giờ cũng vẫn không thể tưởng tượng được là bố mẹ tôi đã lao động kiếm sống như thế nào, đã vất vả tới mức nào với một đàn con như vậy. Và bà, người bà mà chúng tôi yêu quí hơn cả bà ruột của mình, đã đóng góp một công lao to lớn đến thế để tất cả chúng tôi trưởng thành, nên người và thành đạt trong cuộc đời đầy rẫy gian truân này .
Còn nhớ, những buổi chiều mùa hè năm ấy, sau bữa cơm chiều, chúng tôi vây quanh bà nghe kể chuyện. Những tích cổ như “ Tống Trân Cúc Hoa”, “ Phạm Tải Ngọc Hoa”, ‘Lục Vân Tiên”, “ Kim Vân Kiều truyện”….chúng tôi được biết và thậm chí thuộc rất nhiều là nhờ có bà. Bà yêu tôi nhất nhà vì tôi luôn nhớ rất nhanh những điều bà dạy, tôi thuộc lòng khi mới lên 3, lên 4 tuổi cả chương chuyện thơ , và mỗi lần bố mẹ tôi có khách, bà “ đạo diễn” các chương trình biểu diễn của chúng tôi cho khách xem.Bà dạy chúng tôi sắm vai các cô công chúa, bà nảy Kiều , bà ngâm thơ và dạy chúng tôi hò theo hát ứng. Bà là người Kinh Bắc mà. Trời ơi, nhớ lại mà thèm biết bao được sống những ngày thanh bình thuở ấy.
Bà làm thơ cho tôi, đứa được bà cưng nhất trong đám trẻ:

“Đi chợ bà mua bánh giò
Bà dành cho cháu phần to nhất nhà
Mỗi khi cháu chạy chơi xa
Mẹ cháu đánh cháu thì bà lại bênh”

Bà “nảy” thơ Kiều của Nguyễn Du mô tả 6 chị em gái đầu lòng chúng tôi, rồi bà ngâm thơ:

“Đầu lòng sáu ả Tố Nga
Ngô Sáng là chị, em là Ngô Trinh
Thứ ba , Ngô Thục dáng hình
Thứ tư Liên choắt hét inh cả nhà
Thứ năm Tuyên khóc om la
Thứ sáu em út gọi là Ngô Oanh
Sáu chị bề gái đã đành
Sang năm đẻ nữa thì dành con trai
Con trai nối nghiệp lâu dài họ Ngô”


Và rồi chúng tôi hò theo: ‘Hò lơ, hó lơ lắng tai nghe tiếng ai hò lờ, muôn năm hò lờ”

Từ đâu ra điệu hò dân gian quen thuộc trong kí ức tuổi thơ.? Từ bà già Nga, bảo mẫu của chúng tôi, bà của chúng tôi những năm tháng ấu thơ chạy đuổi nhau trên đường phố Thi Sách rợp bóng cây xạ hương , hàng me hàng sấu đường Hàn Thuyên, Ngô Quyền. Hà nội ngày tháng cũ, Hà nội của chúng tôi, bà già Nga của chúng tôi nay còn đâu.

Tôi ấm ức vì chị em đông quá, đến cuối năm học, bố đi họp phụ huynh cho chị cả, mẹ đi họp cho chị hai, còn tôi, mới học lớp 1 đã có 4 em, bà phải ở nhà trông bọn trẻ, chẳng có ai đi họp phụ huynh cho tôi.Một mình tôi đứng ở cổng trường chờ đợi, hi vọng hoặc bố, hoặc mẹ, hoặc bà sẽ đến. Rồi tiếng loa của thày hiệu trưởng vang lên, đọc tên tôi lên nhận phần thưởng học sinh giỏi đặc biệt Tôi sung sướng nhưng hỏang hốt, chạy về nhà tìm bố mẹ, tìm bà. Vừa về tới cửa, nhìn thấy bà đang ẵm em bé, tôi khóc òa không nói lên lời: “ Bà ơi, cháu được gọi lên nhận phần thưởng mà chẳng có ai lên cùng cháu”. Bà hiểu ngay sự tình, vội trao cậu em út lúc bấy giờ mới được vài tháng cho một bà cụ hàng xóm bên cạnh, khóac vội chiếc áo dài nâu sồng, vừa chạy vừa cài cúc áo cùng tôi đến trường . Bà đã cùng với tôi bước lên bục của thày Hiệu trưởng trường cấp 1 Lam sơn, góc phố T. S- Trần Xuân Sọan nhận tặng phẩm đặc biệt cho học sinh là tôi năm đó. Trong kí ức tôi không bao giờ phai mờ nụ cười rạng rỡ của bà khi cùng tôi bước xuống. Bà tự hào vì tôi là sản phẩm của sự chăm nom, dạy dỗ của bà, vì bà đã tới khi tôi cần có bà, bà đã an ủi cho trái tim non nớt của một đứa trẻ 6 tuổi có cảm giác bị bỏ rơi đúng vào lúc nó cần được yêu thương và tôn vinh vì thành tích học tập. Ôi tuổi thơ của tôi, tuổi thơ đầy ắp những kỉ niệm với người bà bảo mẫu yêu quí thật đáng tự hào.

Ngày Hà nội được tin đi sơ tán gấp, âm thanh của tiếng bom Mỹ đã gầm ghè quanh phố phường qua tiếng loa phóng thanh hàng ngày thôi thúc, chúng tôi phải chia tay với bà . Tôi nhớ, cả mấy chị em chạy theo bà, giằng gấu áo dài bằng vải nâu của bà khóc nức nở. Bà vừa đi như chạy vừa quệt nước mắt, cả 6, 7 chị em chạy từ Thi Sách đến bến tàu điện chợ Hôm, rồng rắn, mếu máo. Rồi bà lên tàu, chúng tôi chạy theo tàu/ trên vỉa hè/ , rồi vì mệt quá, mà tàu chạy nhanh không sao đuổi kịp nữa, chị em bảo nhau về, vừa đi vừa khóc ầm cả phố.
Hàng xóm xung quanh nhìn nhau ngơ ngác tưởng như trong nhà vừa có ai gặp tai nạn hoặc một điều gì khủng khiếp hơn thế. Đến khi vỡ lẽ là bà đã lên đường về quê , còn chúng tôi sẽ đi sơ tán một nơi khác, mọi người chép miệng thở dài: “Tại sao lại thế nhỉ, bà gì mà bỏ các cháu không đi sơ tán cùng, để chúng nó khóc than khổ sở thế này?” Họ chẳng hiểu được rằng , bà chẳng phải bà ruột của chúng tôi, bà cũng có một gia đình ở một nơi xa xăm nào đó, và bây giờ, khi cuộc chiến đã lan tỏa đến từng góc phố Hà nội, bà cũng phải về để làm bổn phận gia đình của mình. Từ ngày đó cho tới năm đi lấy chồng, tôi chẳng được gặp lại bà. / còn nữa /.

Chuyện phố nhà binh /Trần Quốc Quân/ Warszawa, Xuân Canh Dần 1000 năm Thăng Long. (Bài đăng Báo Quê Việt số Tết Canh Dần 2010)

Nhà văn Chu Lai cũng đã viết về con phố của tôi với một truyện ngắn tiêu đề “Phố Nhà binh”. Để độc giả không bị nhầm lẫn và tránh việc kiện tụng lôi thôi vì vi phạm bản quyền nên khi viết bài báo này tôi phải thêm chữ “Chuyện” ở phía trước. Ông Chu Lai vốn không phải người phố tôi, nhưng ông làm ở tòa soạn báo Văn nghệ Quân đội nhà số 4 nên mặc nhiên ông có hộ khẩu tạm trú trên con phố này. Chu Lai không biết tên thật là gì. Từ khi biết đến tác phẩm của ông, tôi chỉ biết mỗi bút danh này. Dung nhan của Chu Lai rất bất thường. Tóc ông xoăn tít, da ông ngăm đen không giống người Việt mình. Chính vì thế mới có giai thoại về cái bút danh lạ lẫm này. Người ta đồn rằng, ngày xưa Tây rạch mặt về càn ở làng ông, mẹ ông luýnh quýnh chạy chậm, lại còn bị vấp ngã nữa. Huyền thoại người đàn bà trinh tiết giẫm phải vết chân thần bỗng dưng mang thai ra đời từ đấy. Nhờ câu chuyện nhảm nhí này mà mấy chục năm sau văn đàn Việt Nam mới có một nhà văn bút hiệu Chu “Lai” chuyên viết về đề tài chiến tranh. Trông dữ dằn vậy nhưng ông lại xuề xòa, hiền lành và tốt bụng nữa. Chu Lai hay lê la các quán cóc ở phố tôi để moi chuyện, tìm đề tài viết văn. Thế nên hầu như chuyện gì xảy ra ở con phố nhà binh này ông đều biết cả.
Rất tình cờ trong một lần ghé thăm anh bạn có quầy trong Trung tâm Thương mại EACC tôi vớ được cuốn tạp chí Sức Sống của cộng đồng người Việt ở Czech. Đúng như cái tên, tạp chí này đầy ắp sức sống nên sang được tận Ba Lan để phát hành cho cộng đồng người Việt ở đây. Lướt qua đến hơn nửa quyển tôi bị hút mắt vào một bài mang tít “Văn Nghệ”. Người viết là Lão Hâm. Cái bút danh ngồ ngộ khiến tôi tò mò. Không hiểu vì lý do gì mà Lão Hâm lại đặt cho mình cái bút danh như vậy. Cả bài viết chẳng có chỗ nào đáng được gọi là hâm, thế thì đích thị Lão này “dở người” thật rồi. Rất lạ, lâu lắm rồi tôi không được đắm chìm trong cảm xúc bâng khuâng như khi đọc bài “Văn nghệ” này. Thực ra lối viết đều đều trong bài báo không có gì đặc sắc. Chỉ có điều cái Lão tự nhận “dở người” kia lại viết về chính con phố nhà binh của tôi. Tôi bị lôi cuốn bởi những tư liệu sinh động trong dòng chảy ký ức này.
Nhiều lần tôi đã cố vắt óc đoán thử xem Lão Hâm là ai? sống ở số nhà nào? Nhưng chịu thôi! Có lẽ bởi một điều hết sức đơn giản - Lão Hâm và tôi khác thế hệ nên không biết nhau. Ơi Lão Hâm ơi! Lão đang ở phương trời nào vậy? Lão có đọc bài viết này của tôi không đấy? Lão có biết rằng, ở một góc trời Âu xa xôi vẫn có một đồng ngũ cùng “Quân khu” với Lão. Và hơn thế còn rất nhiều những câu chuyện về một thời đáng nhớ trên con phố ấy mà Lão chưa biết.
Lý Nam Đế là tên một con phố rất đặc biệt và cũng rất đỗi thân quen ở Hà Nội thời chiến tranh chống Mỹ. Đặc biệt nhất ở chỗ nó là Phố Nhà Binh. Chỉ với tám trăm mét chiều dài nối phố Phan Đình Phùng với phố Trần Phú, nó án ngữ cả bề mặt phía Đông của Thành cổ Hà Nội. Con phố nhỏ đó là nơi cư trú của hàng trăm gia đình cán bộ cao cấp Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Trên đó từng là nơi ở của gia đình một Tổng Bí thư, một Chủ tịch nước, hai Bộ Trưởng Quốc Phòng, Ba Đại Tướng…
Phố của tôi và Lão Hâm ngày xưa đẹp lắm. Vì trước ngày tiếp quản Thủ Đô nó vốn là phố của sỹ quan Pháp và Nhật nên toàn nhà tầng và biệt thự xây theo kiểu Tây xen lẫn kiến trúc cổ phương Đông. Tôi biết đến xí bệt lần đầu tiên trong đời cũng chính ở nơi này. Sân vườn khu nhà tôi khi đó trải đầy đá cuội trắng; những bồn hoa đủ màu khoe sắc; những cây liễu, trúc đào, phi lao xanh mướt rủ bóng. Vậy mà chỉ sau mấy năm đi sơ tán, khi chúng tôi trở về thì khu vườn hoa ngạt ngào hương sắc ấy đã biến thành vườn chuối đầy ốc sên, đầy sâu róm chen chúc bên những dãy chuồng gà, chuồng vịt và cả những con lợn chạy rông.
Nói đến sấu Hà Nội là phải nói đến sấu phố Lý Nam Đế. Hai hàng sấu đại thụ trải dài từ đầu phố đến cuối phố phủ kín bóng mát những trưa hè nóng nực. Những giọt nắng chói chang khó khăn lắm mới chui qua được những kẽ lá sấu để in bóng, nhảy nhót trên mặt đường. Quả sấu và tiếng ve sầu là đặc sản rất đỗi thân quen của lũ trẻ chúng tôi. Có đêm hè rất muộn, má tôi mới phát hiện trên giường ngủ của tôi trống trơn. Bà lo lắng thúc ba đi tìm bắt tôi về. Chẳng cần nghĩ lâu, ba cũng biết tôi đang ở đâu. Cây đèn pin trong tay, ông đi rọi từng gốc cây sấu. Đến gần cuối phố ông nhìn thấy đôi dép cao su của tôi dưới một gốc cây. Ngửa mặt nhìn lên, ông quét đèn pin chính giữa mặt tôi. Đang đu bám trên một cành cách gốc chừng 10 mét, người tôi run lên. Nhưng ông nói rất dịu dàng: - Đừng sợ, bình tĩnh, xuống đi con. Tôi len lén như một tên tội phạm biết lỗi bị áp giải về tận giường. Chui vội vào màn, tôi tháo 2 hộp diêm lấy ra từng con ấu trùng ve chưa lột xác. Sáng hôm sau tôi đã có một đàn ve sầu trưởng thành bò chậm rãi trên thành màn. Buồn một nỗi những con ve lột xác trong màn lại không biết kêu, mặc dù đồng loại của chúng phát triển tự nhiên trên những cành cây sấu lại hát inh ỏi. Mùa hè rực rỡ nắng trên phố tôi nếu không có những khúc du ca của các chú ve sầu sẽ tẻ nhạt biết chừng nào. Tiếng ve sầu râm ran mỗi độ hè về là âm thanh đã ăn sâu vào ký ức tuổi thơ của chúng tôi, nó luôn gợi nhớ tới những kỷ niệm không thể nào quên của một quãng đời.
Những tư liệu trong bài “Văn nghệ” khiến tôi đoán Lão “Dở Người” học Trường Nguyễn Văn Trỗi cùng lứa với anh tôi. Khóa 2 khóa 3 gì đó. Lão Hâm có nhắc đến Đức “hát” tức Đại tá Dương Minh Đức nguyên Phó Giám đốc Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội. Gia đình tôi với gia đình Đức “hát” gắn bó mật thiết với nhau. Mật thiết bởi lẽ cả ba má tôi và ba má Đức “hát” đều là dân Miền Nam tập kết. Khi thành lập Đoàn Điện ảnh Quân đội, ba tôi làm chính ủy còn ba Đức “hát” là chú Dương Minh Đẩu làm giám đốc. Đức “hát” và anh tôi cùng học Trường Trỗi. Sau này anh tôi theo học Đại học Quân y còn Đức “hát” học Đại học Kỹ thuật Quân sự. Vì có chút năng khiếu hát, bỗng dưng Đức “hát” lên cơn thích…hát nên chuyển về Văn công Tổng cục Chính trị để làm…ca sĩ.
Nhà số 4 là một tòa nhà mái cong xây theo kiểu kiến trúc Nhật. Đó chính là trụ sở Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Nhà văn, nhà thơ trong và ngoài quân đội không ai không biết nơi này. Những Hồ Phương trồng “Cỏ non”, Hữu Mai bay trên “Vùng Trời”, Nguyễn Khải cày “Mùa lạc”, Nguyễn Minh Châu in “Dấu chân người lính”, những nhà thơ quân đội Vũ Cao với “Núi đôi”, Xuân Sách với ”Chân dung nhà văn”, Trần Đăng Khoa với “Thư tình người lính biển”…một thời vẫn chui ra chui vào nơi này. Mấy năm đi sơ tán tránh bom Mỹ, tôi ở trại trẻ cùng với lũ con cái các nhà văn, nhà thơ, họa sỹ, nhạc sỹ quân đội. Ngay sau khi ký hiệp đinh Paris tôi về học lứa đầu tiên của Trường cấp 3 Phan Đình Phùng. Ngôi trường rất đẹp này vốn là Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương thời thuộc Pháp. Ba tôi tham gia lớp quân chính đầu tiên trước khi theo đoàn quân nam tiến chống Pháp cũng học tại ngôi trường này năm 1946. Một hôm sau giờ tan học về, đang tung tẩy trên vỉa hè tôi bị Tuấn NAT chặn lại. Mặt nó hớt hải đầy vẻ nghiêm trọng: - Thằng Huỳnh chết đuối rồi, mày biết chưa? Nó đi bơi ở Sông Hồng chui xuống bè nứa không ngoi lên được. Tôi nghe người bỗng lặng đi, một giọt nước mắt ầng ậng giấu trong khóe mắt. Thương nó quá! Lúc học cấp 1 ở nơi sơ tán, tôi với nó ngồi cùng một bàn. Bà nội nó chắc chết theo nó mất, vì bà quý và chiều nó lắm. Chúng tôi vẫn thường nghêu ngoao hát trêu nó là “công tử bột công chúa Huỳnh Hoa”. Thằng Huỳnh cao lớn, trắng trẻo, đẹp trai là con đầu của nhà văn Nguyễn Khải. Gia đình nó sống trong khu tập thể quân đội ở bãi Phúc Xá ngoài đê Sông Hồng.
Số nhà 13 là biệt thự của ông Lý Ban nguyên thứ trưởng Bộ Ngoại thương. Ông này vốn người gốc Hoa. Ngay sau vụ nạn kiều 1978 và trước chiến tranh biên giới phía Bắc không ai biết ông đi đâu. Có người nói ông theo chân Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc rồi chết ở đó. Ngôi nhà đó sau này trở thành trụ sở của Công ty giao nhận kho vận ngoại thương Viettrans.
Trước khi Mỹ ném bom Miền Bắc có một lần ba cho phép tôi được vào phòng làm việc của ông ở khu nhà số 17. Tôi vẫn nhớ như in dãy nhà một tầng bên trong rất đẹp bên khu vườn hoa trước mặt. Nhưng đó cũng là lần duy nhất tôi được bước chân vào trụ sở Điện ảnh Quân đội vì sau đó ít tháng nơi này đã biến thành “Hilton hotel” trại giam phi công Mỹ, một địa danh rất nổi tiếng thời chiến tranh.
Ở góc phố Lý Nam Đế với phố Lê Văn Linh là số nhà 19. Trong số nhà này có hai ông đeo quân hàm đại tá từ lúc được phong cho đến khi về hưu. Đó là đại tá Lâm Kèn nguyên tư lệnh Pháo Binh và đại tá Mạc Ninh thông gia của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ngày bé mỗi lần đi học trường Thanh Quan qua đấy, tôi thường nghển cổ ngó vào nhà ông Mạc Ninh để được chiêm ngưỡng dung nhan hai chị em mà chúng tôi vẫn gọi đùa là hai giai nhân họ nhà Mạc. Mạc Hương hơn tôi 1 tuổi còn Mạc Hường sau này học trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới tôi 2 khóa và là con dâu của vị đại tướng huyền thoại.
Số nhà 16A nơi có lớp học thời mẫu giáo của tôi. Cho đến tận bây giờ khi sắp trở thành ông ngoại tôi vẫn còn kết thân với một ông bạn từ thời hai thằng thụi chí chết vào mặt nhau để giành một cái bô. Hơn hai mươi năm sau chính nó lại làm phù rể cho tôi. Bây giờ thằng bạn đó Tuấn NAT sống trong căn nhà tự xây tại khu nhà số 8 cùng phố. Tuấn NAT là họa sỹ của Đài truyền hình TƯ. Vợ hắn là Biên tập viên Phạm Hồng Tuyến con gái nhạc sỹ Phạm Tuyên. Trong khu tập thể 16A có gia đình Trung tướng Phạm Hồng Cư. Ba người con của ông đi sơ tán cùng trại trẻ với tôi. Những năm sau thời “nhà thơ làm kinh tế, thống chế đi đặt vòng” thỉnh thoảng tôi lại thấy bài của ông đăng trên báo Tiền Phong. Các bài viết này thường liên quan tới Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông vốn là đồng hao với vị Tổng tư lệnh đầu tiên của Quân đội NDVN. Vợ ông và vợ Võ Nguyên Giáp là hai chị em ruột, con gái của nhà văn, nhà cách mạng Đặng Thai Mai.
Quãng năm 1986 ngay sau thời kỳ đen tối của “giá, lương, tiền” hàng rào khu nhà 16A bỗng dưng biến mất. Thay vào đó là một dãy cửa hàng mặt phố. Tôi coi nó như biểu tượng kết thúc cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang kinh tế thị trường. Diêm dúa nhất, nổi bật nhất trong số cửa hàng đó là tiệm cho thuê áo váy cưới của nghệ sỹ diễn viên điện ảnh Mai Châu.
Số nhà 37 tọa lạc chính giữa phố là nơi gia đình tôi sinh sống gần nửa thế kỷ. Đó là khu tập thể với hai dãy nhà 2 tầng có 31 hộ gia đình cư trú. Khi chuyển đến đây tôi mới 5 tuổi. Lúc đó gia đình hai vị thiếu tướng đã ở đấy rồi. Một ông là Lê Thiết Hùng vị tướng đầu tiên của Quân đội NDVN còn ông kia là Thái Dũng “cụt” rất nổi tiếng trong chiến dịch Cao – Bắc – Lạng thời đánh Pháp. Sau này khu tôi còn hai ông leo lên được quân hàm thượng tướng là Nguyễn Minh Châu nguyên tư lệnh quân khu 7 và Nguyễn Nam Khánh nguyên Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Thái Mai trong thương hiệu thực phẩm Mai Thái khá nổi tiếng ở Ba Lan là người cùng khu tập thể với tôi. Ngày bé, Thái là vị “thủ lĩnh” của tụi trẻ chúng tôi. Nhà Thái có bốn anh em trai. Chỉ riêng Thái có dáng người chắc đậm, mình gấu, đầu hổ. Ngay từ lúc nhỏ Thái đã có sức khỏe khác thường, bạn cùng lứa không ai đánh lại. Bố của Thái ngày xưa nguyên là cục trưởng Cục Tuyên huấn, tức là ông trùm “tâm lý chiến” của Quân đội NDVN. Đến khi nổ ra chiến tranh biên giới với Tàu năm 1979, ông được điều lên Quân khu Một đảm nhiệm chức vụ phó chính ủy.
Thưở chúng tôi tập tọng làm người lớn chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Vì là thời chiến nên cán bộ cao cấp quân đội còn được trọng vọng lắm. Lũ trẻ biết rõ điều đó nên ra sức tận dụng oai bố để công thần, để cậy quyền cậy thế. Chúng núp bóng các vị phụ huynh làm nhiều chuyện bậy. Thế hệ thanh niên thời Lão Hâm lấy những cuốn sách như “Ruồi Trâu”, “Thép đã tôi thế đấy”, “Bất khuất”… làm gối kê đầu nên vẫn còn say sưa phấn đấu vì lý tưởng. Đến thời hậu chiến, lứa thanh niên chúng tôi bắt đầu bị lây nhiễm nhiều thói hư tật xấu. Tôi không có ý vơ đũa cả nắm nhưng một bộ phận trong số đó ham chơi hơn ham học. Những thói yêng hùng công khai phá phách hay tiểu nhân ném đá dấu tay đều có ở tụi trẻ “con quan”. Mỗi khi mấy ông nghịch tử phạm tội bị bắt giam, chỉ cần một vị phụ huynh đeo quân hàm, mặc quân phục, trên ngực long lanh đủ loại huân chương ra đồn công an bảo lãnh là chúng lại được trả tự do về nhà để thả sức tiếp tục làm đầu gấu. Băng đảng đầu tiên ở Hà Nội dám dùng vũ khí nóng phạm tội và chống lại sự truy kích của công an có lẽ khởi đầu xuất phát chính từ phố nhà binh này mà ra.
Tuổi dậy thì năng lượng dư thừa, mặt phừng phừng lúc nóng lúc lạnh, người bức bách không có cách nào phát tiết; chiều cao cơ thể tăng nhanh hơn việc hình thành nhân cách; lại không được phụ huynh, nhà trường và xã hội để tâm giáo dục đầy đủ - lũ trẻ đó không hư mới lạ. Cả một thời tuổi trẻ chúng tôi không có gì để nghe, để xem, để chơi và nhất là không có chỗ để…xả. Năm 1970 Đài truyền hình mới chập chững phát thử những chương trình thí điểm đầu tiên. Sách thì ít ỏi đến mức đọc tên ai cũng biết. Phim ảnh cũng vậy, quanh đi quẩn lại chỉ có vài diễn viên hầu như mọi người đều thuộc mặt. Báo chí toen hoẻn mấy tờ lại toàn những bài xã luận, bình luận, gương người tốt việc tốt; đọc đến nhàm chán. Nhiều bận ngồi xem hết các chương mục, đọc đến tận giá bán, tận số lượng phát hành mà vẫn chưa xong một lần vệ sinh. Không có gì để xả, lũ trẻ lếu láo rủ nhau rình xem “video clip” người lớn làm chuyện “make love”. Mỗi một lỗ khóa mà tới gần chục đứa cả trai cả gái chen chúc tranh nhau dòm. Có lần một đứa trèo lên lưng đám bạn cố len tới lỗ khóa đến nỗi bất cẩn lao đầu vào cửa đánh rầm. Đôi vợ chồng tội nghiệp bên trong mới giật mình mặc vội quần áo lao ra. Lũ trẻ chạy toán loạn mỗi đứa một hướng.
Dãy nhà 10 gian mặt phố có một bà nguyên là bí thư đảng ủy, kiêm giám đốc một bệnh viện lớn ở Thủ Đô. Chồng bà một đại tá cao ráo, đẹp lão và hiền lành vẫn không làm tròn chức trách “tề gia” để giữ nổi chân bà. Vào một ngày đẹp trời bỗng dưng bà nổi hứng tình vứt lại tất cả các chức vụ đang gánh vác và từ bỏ luôn cả cái lý tưởng “cao đẹp” của một đảng viên cộng sản mà bà vẫn răn dạy các đồng chí của bà để đi theo tiếng gọi của tình yêu. Nghe nói bà đắm say một viên thiếu tá hải quân kém bà gần chục tuổi.
Nhà số 91 vốn là một biệt thự to xây thời Pháp. Tầng trên người ta phân cho gia đình một vị thứ trưởng, bên dưới chia đôi cho gia đình hai ông tướng. Không biết phong thủy nhà đó ra sao mà bên trong phất như diều gặp gió, bên ngoài lại lụn bại…như diều đứt dây. Nửa phía trong ngôi nhà là nơi ở của gia đình thằng bạn cực thân học cùng lớp với tôi hồi phổ thông. Ông cụ nhà nó từ khi chúng tôi biết nhau mới đeo quân hàm đại tá. Vậy mà gần hai mươi năm sau ông từng bước vững chắc leo lên tột đỉnh quyền lực quốc gia. Nửa phía bên ngoài là nhà ở của một ông cục trưởng một cuc thế lực nhất Bộ Quốc Phòng. Từ ngày ông được phong hàm thiếu tướng, nhà ông xảy ra biết bao nhiêu chuyện thương tâm. Trước tiên, ông bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người phải ngồi xe lăn. Thứ đến, anh con trai cả làm bác sỹ quân y can tội cầm đầu một vụ cưỡng bức tập thể bạn đồng nghiệp phải chịu án 9 năm tù giam. Sau nữa, đến lượt cô con gái rượu duy nhất bỗng dưng phát bệnh tâm thần. Cuối cùng, cậu út đang học Đại học Kỹ thuật quân sự bị kỷ luật đuổi khỏi trường. Rõ là bất công trong khi một bên thì “phúc vạn trùng lai”, bên kia lại “họa vô đơn chí”.
Tôi từ nhỏ đã đào hoa nên hay vướng số “gần gũi” các đệ nhất giai nhân phố nhà binh. “Gần gũi” nhưng vì bụt chùa nhà không thiêng nên thế mới khổ. Hồi lớp 6 tôi được xếp ngồi cạnh cô bạn tên Hoa con gái rượu một vị Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu khí thời mới thành lập. Hoa lúc nhỏ chưa thật đẹp nhưng càng lớn Hoa càng rực rỡ. Tên vận đúng vào người. Đến tuổi dậy thì, Hoa đẹp hơn cả những đóa hoa đẹp nhất. “Nhất dáng, nhì da, thứ ba đến nét”. Hoa có đủ cả ba thứ ấy. Sau này Hoa tốt nghiệp Học viện Tài chính rồi chuyển vào Sài Gòn cùng ba má. Ông Phó Tổng cục trưởng bố Hoa có một chuyện nực cười. Đến bây giờ mọi người vẫn không hiểu thực hư ngọn nguồn chuyện này thế nào. Một đồng nghiệp với ông vì đố kỵ ganh ghét nên tung tin rằng ông mắc tội hủ hóa. Kẻ nặc danh này vừa muốn phá vỡ hạnh phúc gia đình ông cho bõ tức, vừa thèm thuồng cái ghế ông đang ngồi. Thời đó theo điều lệ đảng và “đạo đức Hồ Chí Minh” hủ hóa là một trọng tội. Bà vợ ông nghe chuyện mới đề nghị gặp Ban lãnh đạo Tổng cục Dầu khí. Trong cuộc họp đó bà tiết lộ thông tin cực kỳ bí mật trong đời sống phòng the của vợ chồng bà. Bà nói: “Ông nhà tôi liệt dương hơn chục năm nay làm sao có thể mắc tội quan hệ bất chính được”. Mọi người nghe vậy té ngửa và nhất trí biểu quyết xóa án cho ông. Nhiều người tin đó là chuyện thật, nhưng một số cho rằng bà nhà quá cao thủ, dùng tuyệt chiêu để bảo vệ sự nghiệp và uy tín cho chồng.
Năm lớp 7 tôi lại được xếp ngồi cạnh cô bạn hàng xóm sát vách nhà tôi. Người này có cô em gái liền tuổi. Họ không những đẹp người mà còn học rất giỏi. Tôi đùa gọi họ là hai chị em nhà Kiều. Ngày bé chúng tôi cứ vô tư sang nhà nhau chơi, ăn uống rồi lăn ra sàn đá hoa, gác chân lên người nhau…ngủ trưa. Tất nhiên những việc hết sức “hồn nhiên” này chỉ kéo dài đến năm chúng tôi lên 12, 13 tuổi. Lớn thêm chút nữa nhìn trộm nhau đã biết mắc cỡ, mặt đỏ như gấc.
Bí thư chi đoàn lớp tôi những năm cấp 3 nhà ở giữa phố. Cuộc đời của cô bạn này đầy những bi kịch cho đến khi tôi rời Việt Nam để đi du học. Sau đó không bao giờ tôi được gặp hay được nghe kể về cô bạn này nữa. Thời trai trẻ tôi chưa từng được mục kích sở thị một nguyên mẫu nào say sưa phấn đấu vì lý tưởng đến như vậy. Nếu được sống lại Pavel Coocsagin đã có đề tài để viết tiếp “Thép đã tôi thế đấy” phần 2. Ông sẽ lấy bối cảnh nhân vật trung kiên - một phụ nữ trí thức Việt Nam cứng như “Thép đã tôi”. Chân dung cô bạn Bí thư của tôi thật kì dị. Suốt quãng thời gian học với nhau những năm cấp 3, tôi chỉ biết đến thời trang “nhất bộ” mà cô bạn “diện” quanh năm là quần lụa đen, áo bộ đội và dép cao su. Năng lực trí tuệ cộng với bản lĩnh sống và ý chí phấn đấu tạo nên bầu nhiệt huyết rừng rực cháy trong con người bí thư chi đoàn lớp tôi. Rất thật lòng tôi không bao giờ hoài nghi về sự trong sáng và tính chân thực của cô bạn. Có lần cô bạn “bí thư” tâm sự với tôi rằng, hoài bão lớn nhất của bạn ấy là được cống hiến hết mình cho nhân dân, cho xã hội. Nhưng mong muốn cao đẹp hết sức giản dị ấy đã trở nên xa xỉ và không bao giờ được thực hiện bởi sự hoang đường của một chủ thuyết. Ước mơ ban đầu của cô bạn tôi là được khoác áo blue trắng của người thầy thuốc trị bệnh cứu người. Đến khi thi đỗ đại học đạt điểm cao được cử đi du học nước ngoài cô bạn tôi lại chọn học ngành nông nghiệp tận Tasken (Uzơbekistan) với mong muốn trở thành kỹ sư nông nghiệp góp phần tạo ra thật nhiều sản phẩm phục vụ cho mục đích “chỉ dạy của Bác Hồ” là lo cho mọi người dân có cơm no áo ấm, được học hành. Sau khi tốt nghiệp loại ưu cô bạn “bí thư” hăm hở về nước và nhiều lần khước từ những lời mời hấp dẫn về làm việc ở Viện nọ, Bộ kia. “Con người mới XHCN” đó đã xung phong vào tận tỉnh nghèo Ninh Thuận để tình nguyện công tác tại một nông trường trồng bông. Sau hai năm lăn lộn phấn đấu bí thư chi đoàn lớp tôi vinh dự được đứng trong “đội ngũ tiên phong” của “giai cấp tiên phong” của “dân tộc tiên phong” của nhân loại. Cũng trong thời gian đó cô bạn “bí thư” có cơ hội nhận thức được nhiều bài học chân lý từ thực tiễn cuộc sống. Lý tưởng cao đẹp sụp đổ như lâu đài xây trên cát. Từ nỗi thất vọng tràn trề, bí thư chi đoàn lớp tôi nghĩ ra được một độc chiêu. Cô bạn dùng khổ nhục kế xin lãnh đạo cho đi học tiếp với nguyện vọng nâng cao kiến thức nhằm phục vụ Đảng, phục vụ đất nước và phục vụ nhân dân hiệu quả hơn. Kết quả thật mỹ mãn, cô bạn “bí thư” được trở lại Tasken để làm nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tiến sỹ nông nghiệp. Đây là cơ hội tuyệt vời để cựu Bí thư chi đoàn trung kiên tuột xích trốn sang Thụy Điển tìm đến “chân trời mới” thực hiện trọn vẹn mơ ước được cống hiến nhiều nhất, tốt nhất cho đời. Từ sâu thẳm tâm hồn tôi rất quý trọng người bạn gái này. Cựu bí thư chi đoàn lớp tôi tên thật là Đoàn Thị Bình Minh. Không biết cô bạn ấy hiện đang lưu lạc tận chân trời nào. Có ai biết về Bình Minh cựu bí thư chi đoàn lớp tôi không? Nếu biết, mọi thông tin xin gửi về … Ban biên tập Đài truyền hình VTV4, chuyên mục Gặp gỡ khán giả. Tôi cám ơn rất nhiều và xin hậu tạ thỏa đáng.
Hơn hai mươi năm kể từ khi tôi đi nghiên cứu sinh tại Ba Lan, phố nhà binh bây giờ đã lột xác để thành một con phố xa lạ. Đâu rồi hàng phố cũ với nét cổ xưa, thơ mộng? có lẽ nó chỉ còn đọng lại trên những thân sấu già cổ thụ. Phố nhà binh bây giờ trở nên cũ kỹ, xô bồ, đua chen. Bao nhiêu căn nhà hình hộp diêm, hình quan tài sâu hun hút đua nhau trổ ra ngoài mặt phố. Vỉa hè biến dạng không dành cho khách bộ hành. Những người đi xa trở về ít ai còn nhận ra con phố cũ của mình. Câu nói cửa miệng “phố tôi ngày xưa đẹp lắm” chỉ còn trong hoài niệm của những người một thời chôn dấu ký ức tuổi thơ như tôi và Lão Hâm.

Chủ Nhật, 17 tháng 10, 2010

Who am I ?: Một cuộc nói chuyện

Who am I ?: Một cuộc nói chuyện: "'Vietnam - Rising Dragon' Khánh An: Khánh An rất vui chào đón quý vị đến với chương trình Café Wifi… Ngày hôm nay có 3 vị khách mời đến với..."

Một cuộc nói chuyện

"Vietnam - Rising Dragon"
Khánh An:
Khánh An rất vui chào đón quý vị đến với chương trình Café Wifi… Ngày hôm nay có 3 vị khách mời đến với chương trình và chúng ta sẽ nói về một cuốn sách của tác giả là ông Bill Hayton, một người làm việc cho Đài BBC. Ông đã viết cuốn sách này dựa trên những kinh nghiệm có thực của ông. Ngoài ra còn có những vị khách khác mà Khánh An sẽ lần lượt mời các vị ấy tự giới thiệu về bản thân mình. Bây giờ xin mời ông Bill Hayton, tác giả quyển sách "Vietnam - Rising Dragon".
Ô. Bill Hayton :
OK. Tôi tên là Bill Hayton. Tôi đã viết cuốn sách trên để cố gắng giải thích cho những người giống như tôi hiểu về những gì đang thực sự diễn ra tại Việt Nam.
Tôi từng là phóng viên của BBC tại Hà Nội trong những năm 2006 và 2007, vốn là khoảng thời gian rất quan trọng đối với Việt Nam khi Việt Nam tham gia vào tổ chức thương mại thế giới và là nơi diễn ra Thượng Đỉnh Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), từ đó tạo ra rất nhiều sự thay đổi cho Việt Nam. Tôi đã có được một thời gian tuyệt diệu và biết được nhiều điều mà tôi trước đây tôi không hiểu về đất nước các bạn. Tôi đã viết cuốn sách trên để cố gắng giải thích cho những người giống như tôi hiểu về những gì đang thực sự diễn ra tại Việt Nam: sự thay đổi và rất nhiều những vấn đề liên quan đến việc làm thế nào mà Đảng Cộng Sản có thể kiểm soát được đất nước này ngay cả khi mọi thứ đều đang thay đổi về kinh tế, chính trị, văn hóa… Tôi cố gắng để trả lời một câu hỏi lớn là làm thế nào mà Đảng Cộng Sản vẫn có thể nắm quyền và tại sao phản biện xã hội bị thất bại trong hàng chục năm qua?
Khánh An: Cảm ơn ông Bill rất nhiều và bây giờ thì Khánh An xin mời Tiến sĩ Vũ Quang Việt.
TS Vũ Quang Việt: Tôi là chuyên gia về vấn đề thống kê kinh tế. Trước kia tôi đã làm việc cho Liên Hiệp Quốc và bây giờ tôi vẫn tiếp tục làm tư vấn cho một số nước đang phát triển, đặc biệt là các nước ở Đông Nam Á, ở Á Châu.
Khánh An: Cảm ơn TS. Vũ Quang Việt. Bây giờ Khánh An xin mời chị Ngọc Giao.
Cô Ngọc Giao: Thưa vâng, Ngọc Giao thuộc về Tiếng Nói Người Mỹ Gốc Việt hay là Voice of Vietnamese American. Thực ra đây là một hội thiện nguyện nói lên cái nhìn, quan điểm của người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Trong chú tâm đó, những người Mỹ gốc Việt rất để ý mọi chuyện xảy ra ở Việt Nam và luôn luôn mong rằng Việt Nam có những thay đổi tốt đẹp hơn. Do may mắn mà Ngọc Giao được biết ông Bill Hayton ra quyển sách, cũng như mời chuyên gia là TS. Vũ Quang Việt và sau này chúng ta sẽ còn có sự lên tiếng của TS. Đinh Xuân Quân. TS. Việt và TS. Quân là hai người đã trực tiếp làm việc giúp cho sự thay đổi tại Việt Nam từ những năm đầu tiên. Đặc biệt là TS. Việt và TS. Quân cũng đã góp bài trong một tập sách "Đánh thức con rồng ngủ quên" xuất bản năm 2003, thì những cái nhìn của TS Việt và TS Quân sẽ giúp cho chúng ta nhìn thấy bức tranh lớn Việt Nam hiện nay. Cảm ơn Khánh An.
Khánh An: Khánh An một lần nữa chào đón quý vị đến với chương trình Cafe Wifi. Bây giờ để bắt đầu, Khánh An mời ông Bill giới thiệu cuốn sách ông vừa mới xuất bản gần đây, đó là cuốn "Vietnam - Rising Dragon".
Cuốn sách nói về những mặt tốt, tuy nhiên không thể bao quát hết những vấn đề mà tôi muốn nói, nhưng nó nói lên những điểm mấu chốt của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội. Điều mà tôi muốn đưa ra ở đây là rất nhiều người bên ngoài Việt Nam tin tưởng rằng một khi kinh tế được tự do hóa thì chính trị và xã hội cũng tự do. Tôi muốn đưa trường hợp Việt Nam ra để cho thấy rằng điều đó không hẳn là đúng. Nền kinh tế Việt Nam trông có vẻ như được tự do theo như quảng cáo về kinh tế thị trường, tuy nhiên bạn không thấy là đại đa số các công ty tại Việt Nam vẫn đang hoạt động theo đường lối và được chỉ đạo bởi Đảng Cộng Sản. Sự chỉ đạo này dĩ nhiên trên cả lĩnh vực chính trị và xã hội. Tôi không nghĩ là khi kinh tế thị trường được cho phép thì sau đó chúng ta sẽ có được tự do và dân chủ. Tôi nghĩ rằng vấn đề phức tạp hơn nhiều và tôi muốn trình bày nó trong cuốn sách của tôi.
Tạo hệ thống kiểm soát
Khánh An:
Vừa rồi ông Bill có nhắc đến rất là nhiều xoay quanh vấn đề này, đó là tự do trong thương mại và tự do kinh tế. Vấn đề mà ông đặt ra có lẽ là một vấn đề mà các chuyên gia kinh tế khác cũng đã đặt ra rất nhiều, đó là liệu trong một quốc gia không theo chế độ dân chủ thì các vấn đề tự do kinh tế, tự do thương mại có thực sự trở thành hiện thực hay không? Và với trường hợp Việt Nam hiện nay, theo như kinh nghiệm của ông Bill Hayton thì kinh tế Việt nam vẫn chịu sự kiểm soát rất là lớn từ phía Đảng CSVN. Bây giờ thì chuyên gia kinh tế Vũ Quang Việt, ông đã có thời gian làm việc rất nhiều với phía chính phủ Việt Nam thì ông có những kinh nghiệm gì về những vấn đề mà ông Bill Hayton đã đặt ra, thưa ông? TS Vũ Quang Việt: Tôi thấy rằng sau khi đổi mới ở Việt Nam, có thể nói từ năm 1988-1989 thì thực sự Việt Nam mới bắt đầu chấp nhận kinh tế thị trường. Trong kinh tế thị trường thì cái lớn nhất mà Việt Nam thay đổi tức là để cho tự do giá cả và điểm thay đổi thứ hai là cho phép tư nhân tự do làm ăn. Thứ ba nữa, đặc biệt là giải thể, ruộng đất được trở lại cho nông dân để họ làm ăn và do đó kinh tế phát triển. Nhưng mà đúng như ông Bill Hayton nói, tức là cho đến tận ngày nay chính phủ Việt Nam vẫn muốn nắm quyền chủ đạo các công ty, đặc biệt là các công ty quốc doanh.
Họ coi cuộc khủng hoảng Việt Nam là do khủng hoảng thế giới tạo ra, nhưng sự thật thì không phải, mà khủng hoảng này là do chính vấn đề phát triển rất là liều lĩnh của họ tạo ra.
TS Vũ Quang Việt: Đồng thời, về vấn đề chính trị thì (Đảng CSVN) cũng nắm toàn bộ cho nên nó gây ra nhiều vấn đề, từ vấn đề tham nhũng mà ông Bill Hayton đã nói tới và tôi muốn nói thêm như thế này, nói chung Việt Nam có cảm tưởng là phải phát triển cho nhanh để chứng tỏ cho dân chúng biết rằng là như vậy thì tự tạo sự tin tưởng cho dân chúng. Và vì vậy mà họ hăm hở cho đến mức tôi có thể nói là chính quyền mới đây, tức là chính quyền sau thời ông Phan Văn Khải và ông Võ Văn Kiệt, đặc biệt sau khi Việt nam là thành viên của WTO thì họ làm tới mức có thể nói là họ liều lĩnh - liều lĩnh ở chỗ họ chỉ tập trung phát triển với tốc độ cao, tập trung vào để xây dựng quốc doanh, bất chấp chất lượng, bất chấp những phản biện trong xã hội và giới trí thức. Họ tập trung vào để xây dựng một số quốc doanh lớn, thí dụ như là Vinashin. Họ tập trung vào để cho tất cả các công ty quốc doanh có thể làm tất cả mọi chuyện, thí dụ như một công ty đóng tàu thủy như vậy (Vinashin) mà lại có thể mở ra ngân hàng, đầu tư đất đai, nhà cửa, nghĩa là làm tất cả mọi thứ và khi họ làm như vậy thì họ tạo ra cả một hệ thống công ty nửa tư nhân nửa nhà nước, một hệ thống có tính cách gia đình và bè phái. Như vậy thật sự, Vinashin là một trường hợp điển hình mà tôi đã có phân tách, tức là thay vì tập trung vào công nghiệp tàu thủy thì họ lại làm rất là nhiều việc để có lợi cho gia đình, cho đàn em, cho vây cánh, cho đảng, v.v. tất cả những chuyện như vậy dẫn đến chuyện nó (Vinashin) hoàn toàn suy sụp vì nó không thể làm được như vậy. Rồi họ lại ký kết với Trung Quốc để khai thác bauxite ở Miền Trung, rồi cho phép các công ty nước ngoài, đặc biệt là các công ty Trung Quốc có quyền khai thác về rừng, v.v. Rồi họ lấy lại đất đai của dân chúng để đưa cho các công ty, nghĩa là tạo nên một hệ thống mà họ tưởng là gây nên sự phát triển rất cao. Nhưng ngược lại, nó trở thành một cuộc khủng hoảng kinh tế. Cùng một lúc với khủng hoảng kinh tế Việt Nam, lạm phát tăng lên rất cao, lên đến hai mươi mấy phần trăm mà việc này đã được giải quyết thời ông Võ Văn Kiệt đưa lạm phát xuống rất là thấp, thì bây giờ lạm phát lại nổi lên. Rồi vì lạm phát thì đồng tiền Việt Nam lên giá, bởi vì đồng tiên Việt Nam lên giá cùng với sự thiếu hụt về cán cân thương mại với thế giới rất là lớn. Đang là những vấn đề như vậy thì cùng một lúc trên thế giới bị cuộc khủng hoảng kinh tế thì họ coi cuộc khủng hoảng Việt Nam là do khủng hoảng thế giới tạo ra, nhưng sự thật thì không phải, mà khủng hoảng này là do chính vấn đề phát triển rất là liều lĩnh của họ tạo ra.
Trong trường hợp như vậy thì họ làm gì? Họ vẫn muốn kiểm soát, do đó có những nhà trí thức có ý kiến thì họ đưa ra cái Quyết Định 97 nói rằng tất cả trí thức hay những người muốn có ý kiến với chính phủ thì phải đưa cho cơ quan liên hệ trực tiếp với vấn đề đó chứ còn báo chí thì không được. Tôi nghĩ đó là có tính chất bịt miệng. Thế thì cái chính phủ mới này nó có vấn đề rất là lạ như thế này, thời ông Phan Văn Khải, thời ông Võ Văn Kiệt thì chính phủ lập ra một ban tư vấn của chính phủ. Ban tư vấn này là những người không nằm trong hệ thống nhà nước, tức là họ không phải là quan chức, không phải là bộ trưởng, mà họ tương đối độc lập. Họ có ý kiến độc lập, không tự làm cho họ. Đến thời ông Nguyễn Tấn Dũng lên thì ban tư vấn đó bị giải tán. Tôi và những người người khác vẫn tưởng sẽ có một ban tư vấn mới của thủ tướng vì ông thủ tướng mà có một ban tư vấn phù hợp với mình thì đó là một điều bình thường, thì vấn đề giải tán cũng là bình thường. Nhưng vấn đề là sau đó không có một ban tư vấn nào khác ra đời và chính ông thủ tướng nói là “Tôi có rất nhiều trí thức chung quanh tôi rồi”, tức là các bộ trưởng, các quan chức ở trong nhà nước thì những người này có những quyền lợi riêng của mình trong các bộ của họ thì làm sao những người đó có thể tư vấn cho ông thủ tướng được.
Phải theo "lề phải"
Khánh An: Dạ vâng. Cảm ơn TS Vũ Quang Việt. Thưa chị Ngọc Giao, không biết chị có muốn đặt câu hỏi gì với TS Vũ Quang Việt cũng như là ông Bill Hayton không?
Cô Ngọc Giao: Thưa vâng. Giao nghĩ rằng những điều TS Vũ Quang Việt đưa ra đã giải thích một vài điều mà ông Bill có nói đến trong quyển sách. Trong việc này thì Bill là một nhà báo và Giao nghĩ rằng cái chính mà TS. Việt đưa ra đó là chuyện không cho nhà báo nói đến những vấn đề của xã hội, bắt nhà báo phải đi theo "lề bên phải" nó cũng tạo ra rất nhiều vấn đề. Bill có thể nói cho mọi người biết về kinh nghiệm của ông khi ông bị chính quyền Việt Nam từ chối, không cấp visa vào năm 2007 vì ông đã muốn nêu lên những vấn đề này trên báo chí?
TS Vũ Quang Việt Đúng như ông Bill Hayton nói, tức là cho đến tận ngày nay chính phủ Việt Nam vẫn muốn nắm quyền chủ đạo các công ty, đặc biệt là các công ty quốc doanh.
Ông Bill Hayton: Khi tôi mới đến Việt Nam, tôi thật sự ngạc nhiên vì ở đây quá dễ dàng cho tôi làm việc. Một khi tôi cứ ở Hà Nội và không đặt ra những câu hỏi khó thì tôi có thể đi quanh thành phố để phỏng vấn người dân về những đề tài tôi viết mà không gặp trở ngại gì. Khó khăn chỉ đến khi tôi bắt đầu xem xét đến những vấn đề gây tranh cãi. Chẳng hạn như khi tôi viết về sự kiện Việt Nam gia nhập WTO hoặc Thượng đỉnh Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương, thì tôi hoàn toàn không gặp vấn đề. Nhưng khi tôi bắt đầu tìm hiểu xem liệu trẻ em đường phố có bị dẹp đi để chuẩn bị cho dịp Thượng đỉnh APEC hay không thì tôi bắt đầu gặp khó khăn. Và khi mà tôi biết được các nhà dân chủ đã bị đàn áp trong dịp này thì tôi càng gặp nhiều khó khăn hơn. Tuy nhiên, lý do chính mà tôi nghĩ rằng đã làm cho các lãnh đạo của Bộ Văn hóa Thông tin nổi giận là khi tôi bắt đầu nghiên cứu để viết cuốn sách, tôi đã nói chuyện với nhiều người trong hệ thống chính trị mà không thông qua kênh thông tin quy định vì sự quan liêu và chậm chạp của kênh này. Tôi nghĩ tốt nhất là tôi tự tìm hiểu và tự làm lấy. Một lý do thêm nữa là những vấn đề mà tôi tìm hiểu khiến cho họ không thích. Chính vì những lý do trên mà khi tôi ở Việt Nam được hơn 11 tháng thì tôi được thông báo là thị thực của tôi sẽ hết hạn trong vòng 2 tuần nữa và nó sẽ không được gia hạn. Họ cho biết là tôi được phép nộp đơn để xin thị thực mới nhưng không cho biết là thị thực sau đó có được cấp hay không. Khoảng 2 năm trước, tôi cố gắng để quay lại Việt Nam nhưng khi đến phi trường Nội Bài, tôi đã phải quay trở về nước một lần nữa.
Khánh An: Vâng, cám ơn ông Bill Hayton đã chia sẻ những khó khăn mà ông gặp phải khi ông bắt đầu nghiên cứu để viết cuốn sách “Vietnam – Rising Dragon” (Tạm dịch là “Việt Nam – Con Rồng Đang Lên”) để trình bày về thực trạng Việt Nam, nơi mà ông đã có dịp sống và làm việc với tư cách là một phóng viên của Đài BBC. Đã đến lúc Café Wifi phải tạm biệt quý vị, Khánh An và các vị khách mời ngày hôm nay hẹn quay trở lại trong chương trình kỳ tới để tiếp tục bàn về chính sách quản lý kinh tế hiện nay của Việt Nam và những rào cản của nó. Mong quý vị đón theo dõi.

Chủ Nhật, 26 tháng 9, 2010

Thành phố chết 3# / tiếp theo và hết/

Một anh bạn tôi có người vợ bị bệnh nặng, đã 3 năm chạy chữa thuốc men, hết Singapo tới Trung quốc, hết các bậc thày lang nổi tiếng chuyên chữa cho các quan chức chính phủ, cho tới các ông thày, bà thày lang băm, bói toán. Thậm chí, vì quá yêu thương người vợ đã suốt đời tận tụy phục vụ anh , đã chịu đựng cả thời thanh xuân để anh bay nhảy, thăng quan tiến chức, anh đã mời cả thày cúng yểm các xó xỉnh của ngôi biệt thự lộng lẫy nơi đắt giá nhất của thành phố này. Anh kể: vừa bán xong một ngôi nhà thì vợ ốm, anh đã chi tiêu tới gần hết số tiền để thuốc men chạy chữa, vậy mà vợ anh cứ héo mòn đi, có cố gắng lắm cũng chẳng được bao lâu nữa. Thực tế thì anh chị cũng chỉ là một trong trăm ngàn trường hợp người mắc bệnh. Song, thử hỏi, có được bao nhiêu người có hàng chục tỷ để chữa bệnh như vợ anh ? Còn biết bao người nữa đã và đang mắc bệnh từ nguồn thực phẩm ô nhiễm, nguồn nước ô nhiễm, không khí, môi trường ô nhiễm của cái thành phố này, trong khi đồng lương chỉ cho phép họ tồn tại, khi mắc bệnh chỉ còn biết kêu trời và đi “ vái tứ phương”. Tôi nhìn thấy thần chết bay lơ lửng trên mọi nóc nhà là vì thế. Nghe đồn, vị thần chết cai quản vùng này được cử tới từ phương Bắc, nơi ngài thống trị đã nhiều năm, song vì làm việc chểnh mảng, dám phạm thượng để dân xứ này nhởn nhơ sống, nhởn nhơ sản xuất ra các loại sữa chứa Melamin hủy diệt giống người từ còn trứng nước, các loại thực phẩm đóng gói bao bì xanh đỏ chứa đầy hóa chất để lừa phỉnh nhân loại, bởi thế, chúa Trời điều động vị thần chết này xuống phía Nam, nơi mà giống người vốn đã nghèo đói vì cả tin và hiếu chiến để cai quản. Chỉ cần cai quản thành phố này, “thành phố trong sông”, ngài cũng đã không hết việc để làm, bởi hàng ngày, hàng giờ, thành phố này cứ phình to ra mãi. Chỉ cách đây hơn 30 năm, số dân,địa giới ngài cai quản chỉ bằng 1 phần mười số dân và địa giới ngày nay. Đang từ những vùng đất xanh tươi màu mỡ, cây lúa cây hoa mơn mởn, chúng phá đi xây cao ốc nhà lầu. Đang là những sông hồ sạch sẽ, chúng tuôn ra đó không biết bao nhiêu rác rưởi hôi thối, rồi chúng lấp lên trên bằng những chung cư cao cấp, những đô thị mới mênh mông để lừa gạt bọn nghèo hèn tranh cướp nhau mua đi bán lại, để rồi cái ung nhọt bên trong lòng đất sẽ có ngày nổ bung vì khí Metan tích tụ ngàn đời không có nơi thoát. Âu cũng lại là một chiêu lừa phỉnh của thần chết, vì ngài đã ngự trị phương Bắc nhiều năm nên Ngài giàu kinh nghiệm lắm, bởi không thế thì Ngài lấy đâu ra việc để làm, trong khi ngài đã bắt đầu quen với địa dư lãnh thổ vùng này, với đám dân vùng này, và ngài còn đang ra sức thi hành công vụ chúa Trời giao cho.
Chuyện kể rằng, ở nước Anh xa xôi thời vua Acter, đã nổ ra những giao tranh ác liệt giữa nữ phù thủy độc ác Map và vị phù thủy tử tế Merilin, chính là con đẻ của Map. Vị vua Acter hùng mạnh tài năng muốn xây thành quách để chống giặc ngoại xâm, nhưng thành cứ xây cao lên chừng vài mét lại đổ sập qua một đêm, trong khi giặc đã đến gần. Vua đành cho người đi tìm Merilin, vị phù thủy tử tế chỉ cứu giúp con người đến để tìm nguyên nhân đổ thành. Khi Merilin tới nơi, ngay lập tức ông hiểu rằng nhà vua đã chọn sai nơi để xây thành quách. Ông bảo: Nơi vua xây thành chính là thân mình một con rồng đỏ nằm sâu trong lòng đất, bị đè nén không chịu được nên cựa mình làm đổ thành. Rồi ông giúp vua tìm nơi khác, rồi nhà vua đã chiến thắng giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước an bình. Merilin từ đó được vua tin dùng, nhưng cũng từ đó cuộc chiến giữa Map và Merilin bắt đầu. Map mong muốn dạy dỗ đứa con của mình đi reo rắc những hoài nghi, tranh chấp tiền bạc, quyền lực, gái đẹp…, nói tóm lại là những mầm mống của chiến tranh và hủy diệt giữa những con người. Còn Merilin, giàu lòng nhân ái, cao thượng, dũng cảm và thông minh, chỉ muốn cứu giúp nhân loại, đã chống lại mẹ đẻ của chính mình để thực hiện sứ mệnh cao cả ấy. Hàng chục, hàng trăm thế kỉ qua đi, cuộc chiến giữa Map và Merilin vẫn không ngừng tiếp diễn. Giữa các quốc gia lãnh thổ, giữa các bộ tộc sắc tộc, giữa những con người cùng dòng dõi… và ngay chính trong bản thân mỗi con người đều có một Map và một Merilin tồn tại. Đó chính là cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái tiến bộ và lạc hậu lỗi thời…trong mọi thời đại, mọi chế độ, mọi bộ tộc sắc tộc, và ngay chính trong mỗi con người.
Quay trở về cái “ Thành phố trong sông”, nơi chôn rau cắt rốn của tôi, nơi mà thần chết đang bay lượn lộn nhào trên không trung nhòm ngó rình rập. Tai họa khắp nơi mà chẳng thấy đâu một Merilin chỉ đường dẫn lối cho con người ở đây tìm cách tránh thoát. Đâu là đầu rồng, đâu là mình rồng, đuôi rồng…những con người nơi đây chỉ đoán mò để tranh cướp, chia xẻ, để hòng mong phúc lợi chốn linh thiêng này. Rồi lại đang tìm mọi cách để chia cắt các huyết mạch bằng các con đường mang tên rất oai phong để tạo ra các Bilding, các biệt thự mặt đường… nhằm kiếm chác lợi nhuận, tạo ra các cơn sốt đất đai nhà cửa, làm cho đám dân đen rối loạn cào cào chạy theo hớt gió. Thật đáng xấu hổ, tủi nhục cho cái lịch sử hào hùng cha ông để lại nơi mảnh đất này. Than ôi, nữ phù thủy Map đang chiến thắng Merilin, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài, từ cao đến thấp. Bà ta còn đang ngự trị trong mỗi con người chúng ta, hỡi những thần dân khốn khổ của cái thành phố khốn khổ, cái đất nước khốn khổ này.” Ta thương các ngươi”, từ trên cao Thần chết nhủ thầm./.

Thứ Bảy, 25 tháng 9, 2010

Thành phố chết 2#/ tiếp theo/

Người nhiều nên nhà nhiều. Một trong các nhu cầu để sống, đó là nhu cầu ở. Nhà của thành phố này rất đa dạng, kết hợp đủ các kiểu cách, các hình dạng, là sự “ thăng hoa’ hay chắp vá của mọi triều đại và đủ các loại kiến thức tạp nham.Tôi nhìn thấy các tòa nhà cao 30-40 tầng, xen kẽ giữa các gian nhà tạm , mái lợp tấm tôn đen xỉn màu thời gian ngay giữa trung tâm thành phố. Các ngôi chùa linh thiêng từ vài trăm năm may mắn thoát khỏi các cuộc chiến cũng như các cuộc cải cách, cải tổ nằm xen đan giữa các cửa hàng cửa hiệu bán quần áo, giày dép, các quán ăn vỉa hè…Tôi nhìn thấy nhà cửa chen chúc, lô nhô nơi được gọi là phố cổ, rệu rã, nghiêng ngả bởi dòng người chen lấn xô đẩy phía dưới đường. Các ô cửa sổ của các ngôi nhà với rèm cửa chính là các mảnh áo quần bay phấp phới, được chủ nhân của chúng đem trưng ra để tận hưởng khí trời tạo nên một bức tranh rất “ cổ” , rất “thanh lịch” cùng với các mạng dây điện chạy xung quanh chúng như thể một con rồng khổng lồ, không đầu không đuôi, trườn qua các khung cửa sổ ấy. Sự ồn ào của phố phường được tạo bởi tiếng động cơ xe oto, xe máy, bởi tiếng người ,còn được cộng hưởng bởi tiếng còi rú rít của các loại phương tiện giao thông và tiếng máy cưa, máy đục, máy khoan dội lại từ những ngôi nhà đang được sửa chữa. Âm thanh rền vang như một bản giao hưởng khi nhà soạn nhac trong cơn hứng , đưa các nốt sang quãng cao nhất dùng cho kèn sacsofon với bè trầm của đàn Sello tung hứng. Nhưng khốn thay, bản giao hưởng này không có điểm đầu và điểm cuối. Nó rền rĩ, nó gào thét, nó quằn quại ngày qua đêm. Nó chính là điểm đặc trưng của cái thành phố này, một thành phố đang đi tới cõi chết, một thành phố với một lịch sử hào hùng có những tên gọi thật ý nghĩa xứng với tầm vóc của nó qua 10 thế kỉ .
Tôi nhìn thấy thần chết treo lơ lửng trên đầu các em học sinh, ngày ngày đi tới trường phải đi qua những con phố thấp trũng lầy lội, nơi có các cột đèn giăng mắc những khối dây điện khổng lồ như những con rồng bị bó vào những cái cột, muốn cất cánh bay mà chẳng có đường bay. Chỉ một trận mưa bão, thần chết sẽ tung hoành múa cây gậy,và thế là, các em có thể rơi xuống các hố cống, hoặc là sẽ bị điện hút chặt vào thân cột và sẽ chẳng bao giờ còn được cắp sách tới trường. Tôi nhìn thấy thần chết múa lượn trên không trung, ngắm nhìn lũ người dưới dương gian khua môi múa mép xây cao ốc, làm cầu to đường nhỏ nối các huyết mạch giao thông, và thần chết mỉm cười khi nhìn thấy đám đông hỗn loạn ấy chuyển động chen vai thích cánh , vượt ẩu gây tai nạn để tìm đến cõi chết trước cả khi thần cho phép. Thật tội nghiệp cho đám người kia, họ chẳng là gì trong tay ta, vậy mà họ dám cả gan coi thường ta đến thế.Rồi, tôi nhìn thấy thần chết vươn đôi cánh đen sì, ra lệnh cho các cô tiếp viên phải khéo léo đưa lũ người tham ăn tục uống, đầy những dục vọng kia đi vào cơn mây mưa của mọi khoái lạc hưởng thụ, để chúng mang trong người mầm mống của các căn bệnh thế kỉ,để thần có việc làm chứ không lại bị ông trời quở trách là sao lãng công vụ. Rồi tới các quí ông, quí bà tầng lớp trên, chẳng phải hít bụi đường, chẳng phải ăn rau ngâm hóa chất,chẳng phải nghe tiếng chan chát đục đẽo và tiếng chửi nhau hàng ngày của đám dân thường, vì họ đã có các bức tường thành của các ngôi nhà biệt thự cao sang ngăn cách. Thần chết cũng chẳng quản ngại gì mà không tới gõ cửa nhà họ.Thần biết cách làm cho họ thấy được nỗi đau của nhân loại, cho đám con cháu họ bơi trong những vũng nhầy nhụa của tiền bạc, để rồi cuối cùng chúng cũng rơi vào lưỡi hái của ngài thông qua các liều Heroin ngọt ngào. Tôi nhìn thấy ngài bay lượn, lẩn khuất giữa các đám mây hồng, mây trắng, vì ngay chính giữa các đám mây ấy là những lớp bụi khổng lồ bốc lên từ mặt đất, chứa đầy chất dioxin, chỉ ần một trận mưa nhỏ thôi, các giọt nước mang theo chất đó đi vào từng ngõ ngách trên mặt đất.Những giọt nước mưa trời cho đâu có ngọt ngào nữa,bởi chúng đã bị nhiễm độc bởi lũ người kia rồi lại quay trở về mặt đất theo luật nhân quả để gieo rắc sự rối loạn tế bào cơ thể, thì cho dù tiền bạc có chất thành núi cũng chẳng thể nào cứu vãn được. Ngày xưa, chỉ vì thấy đám dân ngày càng ngỗ ngược, đám cai trị ngày càng gian tham, lộng hành, chúa trời đã ra lệnh cho thần chết phóng các quả hỏa lôi xuống mặt đất, làm cho cháy rụi nhân gian, rồi cho nước dâng ngập khắp nơi để tẩy rửa đi những vết tích ô uế của loài người trước đó, cho các giống nòi mới khai thiên lập địa trở lại, hòng mong dạy dỗ cho đám người lúc nhúc dưới dương gian một bài học. Nhưng rồi, chẳng thể nào làm thay đổi được cái bản chất đen tối nhất của giống người, mà điển hình nhất là “người” của cái thành phố này, của cái đất nước này, Ngài lại giao phó cho thần chết cai quản và thi hành công vụ của mình một cách mẫn cán hơn. Lần này chúa Trời đâu cần phóng hỏa lôi, đâu cần tốn nước làm lên trận Đại hồng thủy, ngài chỉ cần cho thần chết lượn lờ trên các con phố, các mâm tiệc, thậm chí ngay cả trong từng ngôi nhà, từng biệt thự, dinh thự và công sở. Ngài mỉm cười khi thấy đám dân kia ăn chơi nhảy nhót thâu đêm suốt sáng nơi các vũ trường, mỉm cười khi thấy chúng hút hít các loại heroin sành điệu, mỉm cười khi thấy chúng tranh giành chiếc ghế trong nghị trường nhằm hốt của cải trên mặt đất cho đầy chiếc túi ba gang của mình, và tự nhủ thầm: Các người rơi vào bẫy của ta rồi, các người chỉ là những con thiêu thân, chiếc túi nặng quá sẽ rơi trước khi các người kịp tóm lấy nó, thật tội nghiệp cho giống người ở cái thành phố này.

Thứ Sáu, 24 tháng 9, 2010

Thành phố chết 1#

Tôi đến một thành phố, nơi có cái tên rất hay hoặc ít ra cũng rất thơ mộng:” Thành phố trong sông”. Thành phố rất đông người, rất ồn ào, rất nhiều màu sắc, và cũng có thể nói, rất sống động. Người ta đi , hay nói đúng hơn, người ta chạy đua nhau trên đường bằng tất cả mọi phương tiện của các nhà sản xuất khắp nơi trên thế giới. Họ chen vai , thích cánh, họ chèn vào nhau, lấn lên nhau để vượt cho kịp giờ làm việc hay kịp một đèn hiệu màu xanh? Họ vội vã, ai cũng vội vã, họ đang vội vã sống hay đang vội vã chết? Tôi tự hỏi và giật mình kinh hãi nhận ra, đây chính là thành phố chết.
Mọi người chen nhau đi đến chỗ chết, cho dù nhìn vẻ ngoài ta cứ nhầm tưởng họ đang sống, đang phát triển.Họ chết dần dần, chết từ từ. Họ biết cả những điều tôi đang viết đây, nhưng họ cứ dấn thân vào và tự nhủ thầm: Sống trên đời là sống tạm, chết mới là vĩnh cửu, vĩnh hằng.Hàng ngày, sau một giấc ngủ nặng nề vì xung quanh họ toàn là khí độc, khí thải, khí lưu từ ngàn năm để lại, họ chạy vội đến một công viên gần nhà nhất, kẻ nào cũng nghĩ rằng chỉ có cách đó họ mới giải tỏa luồng khí đó trong cái cơ thể rệu rã của mình, để cố gắng hít vào luồng khí trời không mất tiền mua mà đầy những chất quí giá không có gì thay thế. Than ôi, ngay cả cái công viên xanh tươi này cũng chỉ giúp cho họ lượm lặt được chút ít bổng lộc của trời đất, vì nó đông quá, người chen vai người, đi, chạy rầm rập, tranh nhau hít, tranh nhau thở, kẻ này thở ra, kẻ kia hít vào, mà ai cũng nhầm tưởng là mình hít được nhiều hơn người khác. Rồi họ vội vã về nhà, vội vã khoác lên người những bộ quần áo được làm bằng các loại hóa chất tổng hợp, vội vã ăn bữa sáng với những món ăn đầy hấp dẫn, thơm ngon, bắt mắt bởi những màu sắc cũng như mùi vị. Họ cũng biết rất rõ rằng món thịt lợn kia từ con lợn được nuôi bằng thức ăn tổng hợp, thuốc tăng trọng, món rau kia được phun thuốc trừ sâu quá nồng độ cho phép, trái cây kia được ngâm thuốc bảo quản để xanh tươi, nhưng họ vẫn ra sức nhét chúng vào cái bụng vốn luôn luôn trống rỗng và cái mồm luôn luôn thèm khát của mình. Được biết rằng thành phố này đang nở rộ phong trào ăn cá để tránh sự đe dọa của bệnh mỡ máu, bệnh thừa Colesterol, bệnh tiểu đường… Thế là các hàng ăn hải sản mọc lên như nấm ở những con đường đẹp nhất nước, đắt nhất hành tinh.
Lộng lẫy, rất lộng lẫy là đằng khác. Đấy là các cửa hàng ăn Hải sản. Ngay từ ngoài cửa, các nhân viên cửa hàng đã đón chào ta một cách trịnh trọng. Các bàn ăn được kê nơi thoáng mát, có các ngọn gió được thổi vào từ các quạt đứng như cố tình lùa cho ta chút gió của biển khơi. Những thực đơn đầy ắp các từ ngữ khêu gợi như ốc len xào dừa, cua rang me, tôm hấp bia, các loại mực sào ròn, mực nướng, mực chiên, cá bỏ lò, cá hấp riềng xả, lẩu cá, lẩu tôm cua...
Các cô phục vụ đều mặc váy ngắn màu xanh nước biển, nhìn thấy mát như ta đang dạo chơi trên bãi cát của bờ biển Nha trang,miệng cười tươi nhằm đưa các thượng đế vào chỗ chết. Ai cũng biết các loại cá đều được ủ phân Ure từ khi vừa kéo lưới lên thuyền, và để được đưa tới các nhà hàng này, chúng phải đi qua rất nhiều công đoạn phân loại, bởi vậy nên chẳng có cách nào làm cho chúng giữ được vẻ tươi mới ngoài cách đó. Riêng các loại mực: mực ống, mực lá, mực cả con, mực một nắng hai sương… đều đã được ngâm tẩy bằng thuốc tẩy quần áo cho trắng bong cũng như quần áo bác sỹ. Khỉ thật, tại sao tôi lại đi mô tả cách làm hàng của cái thành phố này nhỉ, có gì là lạ đâu khi người ta chạy theo lợi nhuận để làm giàu? Và có gì lạ đâu nếu túi của các khách hàng được mệnh danh là thượng đế đều đầy ắp. Hơn nữa, thân phận của họ / hiểu chữ thân phận ở đây như khi gọi các nhà ngoại giao khi họ ngồi trên các xe biến đỏ ngoại giao đi buôn hàng cấm qua các cửa khẩu/ phải được tôn vinh, họ không thể đặt chân vào các quán cóc bên lề chợ như các bà nội trợ ngày xưa, tạt vào làm bát bún ốc hay bát bún cua trước khi xách làn về nhà. Họ lại càng không giống mấy ông xe ôm, chiều về vào quán bia hơi làm vài nghìn đồng mực nướng thơm sực chấm tương ớt. Bởi vậy nên các cô tiếp viên chân ướt chân ráo từ quê lên với chút nhan sắc trời cho mới có cơ hội đổi đời chứ. Các cô đon đả, miệng cười tay bật nắp chai bia Heileken hay Tiger, hoặc mấy chai Vang trắng được dán mác nhập ngoại, thực chất chẳng hiểu là thứ nước gì bên trong. Rồi các thượng đế lặn ngụp trong cái bể hải sản và rượu bia ấy cho đến chiều muộn, đầu óc lơ mơ, chân tay đờ đẫn, sau khi vành môi của các ngài đã được bôi trơn bới các món ăn sành điệu. Các ngài chẳng thèm quan tâm xem nguồn hải sản các ngài sơi có nồng độ fomandehit bao nhiêu, bởi các ngài biết rằng trước sau rồi cũng gặp nhau nơi chín suối.